Wednesday, August 18, 2010
Chúc Mừng Tân Hôn Aí Nữ Nguyễn Văn Tuấn 10B72
10B72
CUỘC ĐỜI CÓ BAO NHIÊU MÀ HỮNG HỜ
Lời nhạc cứ âm thầm réo rắt trong đời mà mỗi lần hội ngộ Anh em làm mọi người cùng suy nghĩ. Hội ngộ của niềm tin, hội ngộ của niềm vui, hội ngộ của Nối tiếp câu chuyện tấm thiệp hồng là những chặng đường mà mỗi con người đều đi đến. Vui mừng cho tương lai của Anh Em. Mỗi tấm thiệp hồng gởi đến bạn bè gợi nhớ cho nhau nhiều kỷ niệm. Tấm thiệp hồng chuyển tải thông điệp cuộc sống của Quá khứ, Hiện tại và tương lai, của cuộc đời nhiều gian khổ đã qua của Cha Mẹ.
Những câu chuyện bên bàn tiệc:
Đám cưới con gái Tuấn Râu cũng là dịp gặp gỡ của Anh Em 10B72 VN. Các cụ đã nói: “Khấp như thiếu nữ vu quy nhật” . Nhưng đó là chuyện trả hiếu của Con gái ngày vu quy , khóc vì nghĩa tình sâu nặng của Cha Mẹ đã nuôi con khôn lớn trải qua bao ngày tháng thăng trầm đau khổ cho đến ngày phải rời Cha Mẹ. Còn ngày hôm nay là ngày Anh Em đồng môn cùng chúc mừng niềm vui của Gia đình Tuấn Râu. Và cũng thật là vui khi tất cả Anh Em bốn vùng đều có mặt. Từ Đà Lạt lần đầu tiên gặp : Tập, Tảo. Từ An Xuyên (Cà Mau): Đồng, lần đầu là Hiểu-Anh chàng Hai lúa. Từ Rạch Giá- Hiệp. Từ Biên Hòa phố: Thành, Dân, Thơm(9C), Bình và Sài Gòn: Linh, Hai, Toản (lần đầu), Sâm (lần đầu), Dũng Soái kình Lâm, Dũng kem, Loan, Thương, Tân, Đạt, Minh phở.
Còn những Đông, Hương (vết thương hành), Kim (đau),Tân, Nhiều,…Phong Dinh, Kim (Vĩnh Bình )chưa dịp gặp lại cũng chung nhịp đập gởi ngàn niềm vui đến Tuấn râu.
Câu chuyện Hai lúa.
Vui mừng hội ngộ khi có người từ Đà Lạt, từ An Xuyên, từ Rạch Giá về Sài Gòn mà không biết đường hoặc lớ ngớ khi đia qua nhiều đường phố ngang dọc mà địa danh đã nhiều thay đổi đến nỗi anh bạn mình chở Anh Hai lúa đã 37 năm chưa đặt chân lại đất Sài Gòn . Trên đường đi ngang dinh Độc Lập,Anh bạn mình kể chuyện vui:
-Nhà Ông cố nội tao ở đây đã 35 năm chưa đòi lại được. Mày có quen ai đòi lại được tao chia cho mày một nửa.
Đã lâu Hai lúa không nhớ ra đây là đâu mà chỉ nghĩ thằng bạn mình gặp chuyện buồn nên chia sẻ:
Thế thời phải thế, tao trên rang dưới lúa chỉ biết chia buồn cùng mày thôi, tao Hai lúa có quái gì đâu mà giúp mày được.
Thằng bạn mình cười sằng sặc:
-Dinh Độc Lập đó Ông Hai lúa.
Cùng cười trừ thôi phải không? Đúng là nỗi đau của AE khi đã quá lâu xa cách Sài Gòn…Sài Gòn đẹp lắm…..
CÂU CHUYỆN CỦA VẾT THƯƠNG
Đang chuyện vui mà đi nói chuyện buồn. Nhưng không có buồn sao có chuyện vui nhỉ. Từ xưa đến giờ hai từ buồn vui bao giờ cũng đi chung nhau như đôi phu phụ hôm nay. Hiện tại là niềm vui và tương lai phải cùng chia sẻ những niềm vui và nỗi buồn cùng nhau suốt cuộc đời. Cuôc đời mỗi AE mình là thế. Vết thương lòng kéo dài vết thương thể xác. Vết thương lòng có thể vơi đi và nhạt nhòa theo năm tháng. Vết thương thể xác ẩn hiện như người tình phũ phàng rũ áo ra đi, không bao giờ quên. Nhìn hình ảnh của Tảo hôm xưa và hôm nay của người từ Vĩnh Bình như Quách Năm và hôm nay Tảo hoặc Hương hay Kim hay Tuấn Râu mời thấy lòng nặng trĩu. Thật buồn khi bằng ấy năm con người đành lòng bỏ đi những người AE cùng chung dòng máu . Thật là vui khi bè bạn phương xa vẫn nặng lòng nghĩ tới AE và vẫn thường xuyên thăm hỏi. Thật an ủi khi nghĩ tới AE.
Cuộc đời có bao nhiêu mà hững hờ.
Thật là buồn khi nghe tin bè ban bỏ mình ra đi, nao lòng khi người bạn ốm đau và thật buồn khi AE mình chưa thật lòng chia sẻ những vui buồn với nhau. Đọc tin người bạn mới gặp lại 35 năm, 37 năm lại càng suy nghĩ cuộc đời còn có bao nhiêu mà hững hờ.
Thôi nhé Anh Em Mười bê 72 VN chúc ANH CHỊ TUẤN RÂU được rể ngoan và chúc đôi trẻ tram năm hạnh phúc.
P/S Nhắn tin: HUỲNH THANH TÙNG bạn đã ở Pleiku, sao mình không nhớ nhỉ? Tiểu đoàn mấy? Mình ở TĐ 278ĐPQ /Thiếu tà Lý Thái Phước (người Thượng) – đóng ở Pleime, đường đi Ban Mê (cầu 110), QL 19 đi Quy Nhơn, Pleimerong (Thác Ialy)
BÀI HÁT:
Chiều thứ bảy tại Cần Thơ Anh em gặp gỡ sau 37 năm , Đối 767 chép lại bài hát này do Tân (Phong Dinh ) sưu tầm và AE đã tay trong tay vui lệ nhòa hát lại khúc ca xưa. Đạt chép lại.
1. Trường Hạ Sỹ Quan nung trí người trai
Một trời thép sung nở hoa tươi cười
Luyện Rèn ngày đêm luôn có Anh-Tôi
Mưa nắng thao trường thắm bao mồ hôi,
2. Cùng về Nha Trang sương gió nề chi
Trèo đèo vượt suối vui hơn kinh kỳ
Đường chiều hành quân lớp lớp chiến y
Sương muối rơi nhiều ướt vai xá gì
3. Đu đưa giữa trời một đêm nguy không nan
Qua dây tử thần cười với hố sâu
Xung phong lên quyết chiến thắng gian lao
Chiến công rực rỡ vui trong nắng đào
4. Hẹn về nơi đây chiến sỹ ngàn phương
Để rồi mai sớm xông pha lên đường
Cùng dệt bài ca gươm sung biên cương
Phơi xác quân thù say men chiến trường.
Nếu có gì bổ sung xin các bạn cứ chắp bút.
Tuesday, August 10, 2010
Saturday, July 17, 2010
Loi Tam Tinh 10B72
Đd Trần Gia Lợi vừa chết, bên này anh em 10B72 chỉ biết đốt nén nhang thơm hương lòng thành kính chia buồn cùng gia đình bạn Lợi, thân bằng, quyến thuộc và tất cả Anh em 10B72 bên đó. Cầu nguyện cho hương hồn bạn Lợi mãi sống cõi bình an và hạnh phúc thật. Anh Hòa chuyển lời nhé. Thân
NGHE TIN BẠN CHẾT
Cái chết đến tuy thật dễ dàng và giản dị với bạn, điều này thật tự nhiên vì rồi ai trong chúng ta cũng sẽ phải ghé trạm này (station - mày nói đấy phải không Bằng), nhưng lại đau buồn, thương nhớ với gia đình và ANH EM BÈ BẠN ĐỒNG MÔN. Giờ này tao viết vài hàng để bạn bè chúng ta cùng thương nhớ và lưu luyến chia tay Bạn, Chuyến xe cuối cùng của cuộc đời sẽ đưa Bạn đến nơi chốn bình an, hạnh phúc và hoan lạc. Tin đến thật nhanh trong thời đại điện toán ngày nay, nhưng lại quá chậm trễ vì đời sống quay vòng chóng mặt của ANH EM. Còn đâu niềm hy vọng của tương lai, còn đâu ước vọng thời trai trẻ, còn đâu hoài bão của đời ta. Ngày hôm qua gặp lại bè bạn, những Tập, những Chi, những Tảo, những Phạm Thiện hay Hào đau khổ trên giường bệnh mà giờ đây phải hồi tưởng qua những mái đầu bạc, da đồi mồi nhiều hầm hố để nhớ lại khuôn mặt đẹp trai của thời loạn lạc binh đao.
Bạn ơi, giờ đây Bạn không còn gì để lo nghĩ, bận tâm về cuộc sống, gia đình hay xã hội. Anh em bọn mình tin chắc rằng, Bạn đang ở với Chúa hoặc trên Trời (chưa nhớ bạn theo ai) và bọn mình luôn cầu khẩn Ngài, là Cha nhân từ luôn thương xót đến Bạn, vẫn yêu thương và che chở bạn nơi cõi vĩnh hằng
Giờ đây Anh em chúng tôi xin đốt nén nhang trầm, nghiêng mình trước linh cửu của Bạn. Cầu xin Chúa (Trời) đón nhận những lời nguyện thiết tha của chúng con để đón Bạn về cõi sống thật - nơi đó không còn giận hờn, ghen ghét, ưu tư, sầu não, đau buồn, bệnh tật và thương đau.. Xin tạm biệt Bạn và hẹn ngày gặp Bạn khi chúng tôi cùng ghé trạm.
HA TIEN DAT
Thursday, April 29, 2010
Một ngày cuối tháng tư
Đã lâu mình chưa thăm hỏi nhau Anh Hòa nhỉ. Cuộc đời cứ bình thản đi. Đi mà không ngoái nhìn lại. Thấm thoát một năm qua đi, cũng thời điểm này năm ngoái , mình gặp việc riêng tư. Không hẹn mà gặp lại tình cảm đồng môn, tình huynh đệ chi binh mà mỗi năm vào Mùa Phục sinh này chắc hẳn rằng càng nhớ đến các bạn hơn. Nói cám ơn các bạn nhiều khi các bạn lại cho là khách sáo, nhưng tình cảm anh em làm sao mà quên được. Dù rằng đó chỉ là những món quà nhỏ, nhưng đối với mình và bọn mình còn ở đây. Tất cả đều thấy rất trân trọng và nồng ấm tình huynh đệ trong xã hội có lẽ là vô cảm đối với những "tàn binh" như bọn mình. Xin nói muôn ngàn lần cám ơn và Anh Hòa nhớ gởi lời cám ơn các bạn và gia đình cho mình nhé.
Đó là chuyện riêng còn chuyện chung Anh em mình cũng nhắc nhở nhau về Anh em HN. Mình đang viết một câu chuyện về những suy tư của 37 năm.
CÂU CHUYỆN TẤM THIỆP HỒNG
Tấm thiệp hồng mời đám cưới cái nào cũng giống như cái nào phải không Bạn? Cũng tên tuổi của Bố Mẹ đôi bên, cũng trang trọng tên đôi bạn sắp thành hôn. Tấm thiệp hồng nào chả ẩn chứa niềm vui và vinh dự. Vui mừng cho bạn bè, vui mừng cho đôi lứa, vui mừng cho tương lai rực rỡ. Vinh dự vì có dâu thảo rể hiền, vinh dự vì thành quả của chính mình mang lại cho gia đình, vinh dự vì tương lai tốt đẹp của đôi lứa …. Tấm thiệp hồng là quá khứ của ngày mai
Ngày mai nhìn lại hành trình tấm thiệp hồng là 37 năm;Hôm nay hành trình tấm thiệp hồng là niềm vui đôi trẻ và gia đình bằng hữu.
Ngày mai hành trình tấm thiệp hồng là kỷ niệm của tình đồng đội không quên năm tháng.

Ngày mai hành trình thiệp hồng mang kỷ niệm nỗi buồn truân chuyên như đời trai trẻ
Hôm nay hành trình thiệp hồng mang nặng ân tình của năm tháng đã qua.
Thiệp mời dự lễ cưới con của một người bạn đã 37 năm sao mà gợi nhớ, gợi thương, gợi buồn. Bạn đồng học, bạn đồng nghiệp, bạn đời, bạn kết nghĩa, bạn đồng khóa hay bạn đồng môn. Thực là khó khi diễn tả cảm xúc vui buồn trong lúc này.
T...người bạn đồng môn từ Rạch giá 37 năm tưởng chừng đã lảng quên qua năm tháng. Như một sợi dây vô tình đồng cảm mà nối lại tình thâm. Chuyện vui của gia đình mà là chuyện vui của bè bạn. Những Hiêp, Dũng - Rạch Giá, Đồng , Ơn, Hiệu - Cà Mau , Tuấn râu, Thuận, Đối -Sài Gòn, Bổ, Tân, Nhiều- Phong Dinh. Gặp nhau đây mà ngỡ như ngày hôm qua , những chàng trai trẻ lên đường từ khắp mọi miền đất nước hội tụ miệt mài sử kinh, mài gươm thiêng cứu nước. Tung cánh giang hồ trên khắp chốn, Đời trai phiêu lãng tưởng rằng quên. Mà nay đã thành những "tàn quân". Buồn nào rải khắp muôn phương.
T... và T..... người thương binh đồng môn sau cuộc chiến, ở Lâm Đồng điện thoại với bạn bè khắp chốn. Buồn và không biết bao giờ quên. Cứ mỗi năm đến dịp này tao lại nhức đầu và những vết thương cũ như tái phát. Nào báo chí, nào truyền hình, và nào .... nhức nhối mãi vết thương đau. Tâm sự với anh em, tâm sự với bè bạn cho vơi bớt nõi sầu và cơn bệnh bớt hành hạ,. Đâu phải mình bạn đâu phải không T....., chúng ta những chàng trai thời chiến chinh hằng ngày gặm nhấm niềm đau khôn tả, nuốt vào lòng lệ rơi. Thôi mình cứ tìm nhưng cái gì mình có chứ không tìm những gì mình muốn. Chân lý và chân lý.
Hành trình 37 năm là hành trình những người bạn tìm nhau khắp chốn, Khuynh nằm xuống vùng miền sông nước bên chiếc cầu soi bóng, không người chăm sóc đã 37 năm, B… người bạn đã chôn vùi đời trai trẻ bao nhiêu năm dưới hầm sâu, và T… và N… má đã nhăn lưng cũng đã hơi…hơi còng vì cuộc sống và những chàng trai trẻ khác vùi chôn lý tưởng đời mình trong năm tháng bị lãng quên.
Được gì và mất gì các bạn nhỉ?
Được kết lại tình bạn năm xưa bên mái trường sôi mài sử kinh
Được tình huynh đệ chi binh hâm nóng tình đệ huynh,
Được nối lại tình người với tình người.
Được chẳng bao nhiêu và mất rất nhiều?
Một ngày cuối tháng tư.
Alpha Hoàng Cúc
P/s còn nhiều suy nghĩ nhưng hãy hiểu rằng .....Bạn ơi
HA TIEN DAT
Tuesday, April 20, 2010
Wednesday, April 14, 2010
SVSQ Dương Văn Lệ và SVSQ Lê Thanh Tài / Bải Tiên THSQ/QLVNCH

Sunday, April 4, 2010
Tuesday, March 30, 2010
Sunday, March 28, 2010

"Tôi cũng không làm nhục các anh như các anh làm nhục tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phê phán xét đoán các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Xin đừng bịt mắt. Đả đảo cộng sản. Việt Nam muôn năm".
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn (24 tháng 3 năm 1938 - 14 tháng 8 năm 1975)
Là một sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông giữ nhiều chức vụ tác chiến trong binh chủng biệt động quân trong giai đoạn đầu đường binh nghiệp, rồi được biệt phái sang các Sư đoàn 21 và Sư đoàn 9 bộ binh. Chức vụ cuối cùng lúc bị phía cộng sản bắt là đại tá tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện (tỉnh lị là Vị Thanh nay là tỉnh lị tỉnh Hậu Giang). Sau khi lệnh từ Sài Gòn kêu gọi buông súng ông vẫn còn chiến đấu để cuối cùng đối phương vây bắt và mang ra xử bắn tại sân vận động Cần Thơ ngày 14 tháng 8 năm 1975.
Thiếu thời
Ông sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938, tại miền tây. Thân phụ là một hạ sĩ quan trong quân đội Quốc gia Việt Nam. Thuở nhỏ ông rất khỏe mạnh, không hề bị bệnh tật gì. Năm 10 tuổi ông bị bệnh quai bị, cả hai bên. Tính tình hiền hậu, giản dị, trầm tư, ít nói. Khi ông bắt đầu đi học năm (1945) thì Chiến tranh Pháp-Việt bùng nổ, nên sự học bị gián đoạn. Mãi đến năm 1947 ông mới được đi học lại. Ông học chỉ đứng trung bình trong lớp. Năm 1951, phụ thân nộp đơn xin cho ông nhập học trường thiếu sinh quân. Thời điểm này, trên toàn lãnh thổ Việt Nam có 7 trường thiếu sinh quân như sau:
Trường thiếu sinh quân đệ nhất quân khu, ở Gia Định
Trường thiếu sinh quân đệ nhị quân khu ở Huế
Trường thiếu sinh quân đệ tam quân khu ở Hà Nội
Trường thiếu sinh quân Móng Cái dành cho sắc dân Nùng
Trường thiếu sinh quân đệ tứ quân khu ở Ban Mê Thuột
Trường thiếu sinh quân Đà Lạt của quân đội Pháp
Trường thiếu sinh quân Đông Dương của quân đội Pháp, ở Vũng Tàu
Ông được thu nhận vào lớp nhì trường thiếu sinh quân đệ nhất quân khu niên khóa 1951-1952. Trường này dạy theo chương trình Pháp. Ông đỗ tiểu học năm 1952. Cuối năm 1952, trường thiếu sinh quân đệ nhất quân khu di chuyển từ Gia Định về Mỹ Tho.
Khi Hiệp định Genève ký ngày 20 tháng 7 năm 1954, thì ngày 19 tháng 8 năm 1954, trường thiếu sinh quân đệ tam quân khu di chuyển từ Hà Nội vào, sát nhập với trường đệ nhất quân khu ở Mỹ Tho. Niên học 1954-1955, trường bắt đầu dạy chương trình Việt, và chỉ mở tới lớp đệ ngũ. Ông học lớp đệ lục A, giáo sư dạy Việt văn là ông Nguyễn Hữu Hùng, từ Bắc di cư vào. Thực là một điều lạ là giữa một số bạn học chương trình Việt từ Bắc vào mà ông lại tỏ ra xuất sắc về môn Việt văn. Trong năm học, có chín kỳ luận văn, thì bài của ông được tuyển chọn là bài xuất sắc, đọc cho cả lớp nghe bảy kỳ. Nhưng bài của ông chỉ đứng thứ nhì trong lớp mà thôi.
Binh nghiệp
Năm 17 tuổi ông được gửi lên học tại Liên trường võ khoa Thủ Đức, về vũ khí, niên khóa 1955-1956. Sau ba tháng, ông đậu chứng chỉ chuyên môn về vũ khí bậc nhất với hạng ưu. Sáu tháng sau đó, ông lại đậu chứng chỉ bậc nhì, và bắt đầu ký đăng vào quân đội với cấp bậc binh nhì.
Theo quy chế dành cho các thiếu sinh quân thời đó, một học sinh ra trường, thì ba tháng đầu với cấp bậc binh nhì, ba tháng sau với cấp bậc hạ sĩ, ba tháng sau thăng hạ sĩ nhất, và ba tháng sau nữa thăng trung sĩ. Chín tháng sau ông là trung sĩ huấn luyện viên về vũ khí.
Chiến tranh tại miền Nam tái phát vào năm 1960 tại một vài vùng. Sang năm 1961 thì lan rộng. Để giải quyết nhu cầu thiếu sĩ quan, bộ quốc phòng cho mở các khóa sĩ quan đặc biệt. Ông được nhập học Khóa 2 Hiện Dịch thuộc Trường Hạ Sỉ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Đồng Đế Nha Trang và tốt nghiệp khóa sĩ quan đặc biệt với cấp bậc chuẩn úy.
Sau khi ra trường, ông theo học một khóa huấn luyện biệt động quân, rồi thuyên chuyển về phục vụ tại khu 42 chiến thuật, với chức vụ khiêm tốn là trung đội trưởng thuộc tiểu đoàn 42 biệt động quân "Cọp ba đầu rằn". Lãnh thổ khu này gồm các tỉnh Cần Thơ (Phong Dinh), Chương Thiện, Sóc Trăng (Ba Xuyên), Bạc Liêu, Cà Mau (An Xuyên). Nhờ tài chỉ huy thiên bẩm và chiến đấu gan dạ nên ông được thăng cấp đặc cách nhiều lần tại mặt trận lên đến trung úy và được bổ nhiệm làm tiểu đoàn phó tiểu đoàn 42.
Cuối năm 1966, ông từ biệt tiểu đoàn 42 biệt động quân đi làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 thuộc sư đoàn 21 bộ binh. Suốt năm 1967, ông với tiểu đoàn 1 tung hoành trên khắp lãnh thổ năm tỉnh vùng sông Hậu. Sau trận tổng công kích Mậu Thân, ông được thăng thiếu tá. Năm 1968, ông là người có nhiều huy chương nhất quân đội.
Năm 1970, ông được thăng trung tá và rời tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 đi làm trung đoàn trưởng trung đoàn 15 thuộc sư đoàn 9 bộ binh. Năm 1972, ông được lệnh mang trung đoàn 15 từ miền Tây lên giải phóng An Lộc. Cuối năm 1973, ông được trở về chiến trường sình lầy với chức vụ tỉnh trưởng, kiêm tiểu khu trưởng tỉnh Chương Thiện.
Trận chiến cuối cùng
Cộng Sản Việt Nam hèn hạ dùng nhục hình để xử tử hình Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ngày 14-8-1975.
Sau khi lệnh từ Sài Gòn kêu gọi buông súng ông vẫn còn chiến đấu. Các đơn vị quân cộng sản tiến vào tiếp thu tiểu khu Chương Thiện, thì gặp sức kháng cự, chết rất nhiều. Cuối cùng ông bị bắt và mang ra xử bắn tại sân vận động Cần Thơ ngày 14 tháng 8 năm 1975. Trước lúc bị hành hình, những người cộng sản xử ông hỏi ông có nhận tội vừa nêu ra không thì ông trả lời như sau:
"Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không làm nhục các anh như các anh làm nhục tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phê phán xét đoán các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Xin đừng bịt mắt. Đả đảo cộng sản. Việt Nam muôn năm".
Người dân Cần Thơ lén đưa thi thể có Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn về ... và phủ cho một lá cờ Việt Nam Cộng Hòa ... mà cố Đại Tá đã suốt đời phục vụ cho lý tưởng của Việt Nam Cộng Hoà.
NGUYEN HUY HUNG
Friday, March 5, 2010
ĐÀ NẴNG NGÀY RA TRẠI

Cảnh đìu hiu. Người lãng đãng, dật dờ
Chỉ một năm! Cứ như sống trong mơ
Phố cằn cỗi, người già nua. Nhức nhối!
Đêm Đà Nẵng, tháng 3! Mùa gió nổi
Quán không tên, leo loét bóng in tường
Nhớ bạn bè. Nhớ đồng cảnh thân thương
Còn nghiệt ngã trong cảnh đời tù tội.
Mới tròn năm đã quá nhiều thay đổi!
Ta về đây mà ngỡ lạc chốn nào
Phố bây giờ: nhà trống giữa rừng sao
Buồn như thể đồng hoang đêm sa mạc.
Một năm thôi! Đủ cho lòng tan tác
Xót nhục hình. Vàng đá tựa bèo trôi
Mắt thâm u. Lời ngậm kín trên môi
Cho nặng trĩu bóng đời mờ nhân ảnh.
Vừa ra trại đã thấy sầu nặng gánh
Đà Nẵng ơi! Ta trở lại đây rồi!
Chi thấy lòng thêm tẻ lạnh mà thôi
Kỷ niệm củ, thành phố xưa...đã chết!
Mai ta đi tiếng lòng sao nói hết
Câu tâm tình bất chợt thoảng qua mau
Chào Cầu Vòng mới đó đã lạ nhau
Vì Đà Nẵng nay đã thay chủ mới.
Mai ta đi sẽ không cần nhắn gởi
Vì thân thương, dấu ái đã mù khơi
Kẻ biệt tăm, người đang trả nợ đời
Còn ai nữa để mong lần gặp lại!?
Mai ta đi biết đâu là mãi mãi
Không quay về chốn cũ, một thời qua
Đà Nẵng ơi! Dẫu muôn trùng hồ hãi
Vẫn nhớ hoài phố, núi, biển...áo hoa!
HUY VĂN
20-03-1976
( Qúy tặng: Trần Ngọc Dũng, TĐ2 TQLC, Nguyễn Văn Bốn, Nguyễn Văn Tài
TK Quảng Nam, để nhớ ngày về từ Hiệp Đức )

























nu=4+%283%2937+%29254%29WSNRCG%3D32%3B558%3B%3B+345nu0mrj.jpeg)